CỔ PHIẾU THƯỞNG LÀ GÌ

  -  

Cổ phiếu thưởng là gì?

Cổ phiếu thưởng thực chất là nghiệp vụ chia tách cổ phiếu. Nó không hề phát sinh bất kỳ dòng tiền mới nào giúp cho doanh nghiệp gia tăng nội lực của mình. Khái niệm “cổ phiếu thưởng” được sử dụng khi cổ đông nhận được cổ phiếu mà không phải trả tiền do công ty trả cổ tức bằng cổ phiếu. Khi thưởng cổ phiếu cho cổ đông, doanh nghiệp thường dùng nguồn hình thành từ vốn thặng dư (số tiền chênh lệch giữa giá bán và mệnh giá khi doanh nghiệp phát hành cổ phiếu tăng vốn điều lệ) và lợi nhuận tích lũy lại qua các năm (giống như khi trả cổ tức bằng cổ phiếu) để chuyển thành vốn điều lệ.

Bạn đang xem: Cổ phiếu thưởng là gì

Các trường hợp trả cổ phiếu thưởng

Có 2 trường hợp trả cổ phiếu thưởng:

Trường hợp 1: Thưởng cho người có công đóng góp

Cổ phiếu thưởng là việc công ty dùng một số cổ phiếu (hay trước đây là của chung của mọi cổ đông) để thưởng cho những người quản lý, cán bộ công nhân viên hay những người có đóng góp lớn đối với các hoạt động của doanh nghiệp. Nguồn của cổ phiếu dùng để thưởng thường là từ các cổ phiếu quỹ của công ty.

Trong trường hợp này, tổng giá trị sổ sách của công ty sẽ không thay đổi, lợi ích của người được thưởng thể hiện rõ ràng bên cạnh đó tỷ lệ sở hữu của công ty sẽ được tăng lên. Còn đối với những cổ đông không được thưởng, tỉ lệ sở hữu công ty của họ sẽ giảm xuống.

Đây sẽ là một cách để công ty khuyến khích tinh thần làm việc và sự đóng góp hiệu quả của nững người được thưởng.

Trường hợp 2: Thưởng cho tất cả cổ đông

Đây là việc tất cả cổ đông sẽ nhận thêm cổ phiếu mới với tỷ lệ nhất định. Ví dụ: 100:5, tức là cứ nắm giữ 100 cổ phiếu cũ thì cổ đông sẽ nhận thêm 5 cổ phiếu mới.

Việc thưởng cổ phiếu thưởng như vậy không làm tăng vốn chủ sở hữu của các cổ đông. Vì về bản chất, đây chỉ là chuyển đổi giữa các khoản mục trên Bảng cân đối kế toán. Cụ thể là giảm lợi nhuận giữ lại sang tăng vốn điều lệ.Tỷ lệ sở hữu của cổ đông trong công ty không đổi.Cổ phiếu phát hành thêm để thưởng cho cổ đông sẽ làm tăng số lượng cổ phiếu.

*

Vốn chủ sở hữu không đổi, số lượng cổ phiếu tăng lên, sẽ khiến giá trị sổ sách (Vốn chủ sở hữu / Số lượng cổ phiếu) giảm tương ứng.

Như vậy, cảm giác giá cổ phiếu rẻ đi, giúp nhà đầu tư ít vốn có cơ hội tham gia. Họ sẽ tìm cách mua cổ phiếu trước khi cổ phiếu được chia thưởng, làm tăng cầu cổ phiếu, dẫn đến giá cổ phiếu tăng.

Ngay sau ngày chốt danh sách phát hành cổ phiếu thưởng, Sở Giao dịch chứng khoán sẽ điều chỉnh giá tham chiếu của cổ phiếu giảm đi tương ứng. Tài sản của nhà đầu tư trước và ngay sau thời điểm chốt danh sách là không đổi.

Tuy nhiên, nhà đầu tư cần lưu ý rằng, cổ phiếu thưởng nhiều khi được doanh nghiệp sử dụng như một chiêu trò đánh lạc hướng.

Ban lãnh đạo nhiều doanh nghiệp lợi dụng việc thiếu hiểu biết của cổ đông để che giấu việc công ty đang thiếu hụt dòng tiền mặt để chia cổ tức (hay cố ý để lại quỹ tiền mặt lớn nhằm phục vụ lợi ích cá nhân) bằng việc “thưởng” cổ phiếu cho cổ đông.

Khi thị trường tăng giá, chia cổ tức bằng cổ phiếu thường được doanh nghiệp sử dụng và được cổ đông ưa chuộng.

Vì: Giá cổ phiếu đang tăng mạnh, việc pha loãng khiến thị giá cổ phiếu giảm. Điều này tạo tâm lý tích cực cho nhà đầu tư có nhu cầu giải ngân trong ngắn hạn. Nhà đầu tư cũng kỳ vọng giá cổ phiếu sẽ mang lại lợi nhuận cao hơn cổ tức tiền mặt.

Khi thị trường giảm giá, nhà đầu tư cảm thấy an tâm hơn khi nắm giữ tiền mặt. Việc chia cổ phiếu thưởng sẽ gây tâm lý tiêu cực vì cảm giác giá cổ phiếu giảm trở nên trầm trọng.

Xem thêm: Token Là Gì? Cách Thức Hoạt Động Và Sử Dụng Của Token Token Là Gì

Bản chất của cổ phiếu thưởng

Việc phân chia cổ phiếu thưởng bản chất làm không thay đổi về mặt tài chính, kinh doanh mà chỉ thay đổi về mặt báo cáo kế toán tự lợi nhuận chưa được phân phối sang chủ sở hữu. Bản chất của việc chia cổ phiếu thưởng được chia ra như sau:

Đối với các nhà đầu tư

Đối với nhà phân tích cơ bản hay đầu tư giá trị, việc chia tách cổ phiếu này dường như vô ích. Đây cũng lầ lý do Berkshire Hathaway của Warren Buffett chưa bao giờ chia tách hay trả cổ túc bằng số cổ phiếu.

Đối với nhà phân tích kỹ thuật đầu cơ thì có thể tận dụng điều này vì nó có tác động về mặt tâm lý của các nhà đầu tư trong thời gian ngắn hạn.

Ví dụ như với những cổ phiếu có giá trị cao việc chia tách sẽ làm gia tăng tính thanh khoản do giá cổ phiếu đã được điều chỉnh theo tỷ lệ chia thưởng.

Những nhà đầu tư ít vốn sẽ có cơ hội đầu tư khi có cảm giác cổ phiếu đã rẻ đi. Việc cho phép nhiều nhà đầu tư có mức tiền vừa phải sẽ tham gia nhiều hơn, làm tăng cầu trong thị trường chứng khoán.

Tuy nhiên, nếu doanh nghiệp hoạt động kinh doanh hoạt động không vượt trội thì giá sẽ trở về mức trước khi tăng.

Vì thế, đối với những nhà đầu tư đang sở hữu cổ phiếu hay đang có dự định mua cổ phiếu họ có thể căn cứ vào số cổ tức được trả để tính lãi suất hiện thời bằng cách lấy khoản này chia ra cho cá thị giá cổ phiếu khác.

Đây đã được coi là một trong những tiêu chí giúp cho các nhà đầu tư chọn cổ phiếu tốt hơn.

Đối với các doanh nghiệp

Các doanh nghiệp thường vẫn chọn hình thức chia cổ phiếu. Các doanh nghiệp chia cổ phiếu thưởng để nhằm hỗ trợ cổ động không phải chịu thuế thu nhập cá nhân.

Nhưng cũng có những những doanh nghiệp chọn hình thức này để tăng vốn điều lệ, từ đó tăng năng lực tài chính và có cơ hội tiếp cận khoản vay lớn hơn để thực hiện được các dự án lớn, …

Các đặc điểm của cổ phiếu thưởng

Quyền yêu cầu về thu nhập

Cổ đông sở hữu cổ phiếu thưởng có quyền yêu cầu về thu nhập sau thuế sau khi quyền yêu cầu của trái chủ và cổ đông sở hữu cổ phiếu ưu đãi được thoả mãn. Thu nhập của cổ đông có thể bao gồm phần cổ tức trả trực tiếp hàng năm và phần lợi nhuận giữ lại để tái đầu tư của công ty. Việc tái đầu tư làm tăng giá trị của công ty, tăng khả năng thu nhập của công ty cũng như cổ tức trong tương lai. Hành động này sẽ làm tăng giá trị của cổ phiếu.

Quyền yêu cầu về thu nhập có cả lợi thế và bất lợi đối với cổ đông

Lợi thế ở đây chính là khả năng lợi nhuận tiềm tàng không bị giới hạn. Tuy nhiên, quyền lợi của phần lớn chứng khoán ưu đãi (trái phiếu và cổ phiếu ưu đãi) phải được thoả mãn, phần còn lại mới được chia cho cổ phiếu thường dưới dạng cổ tức hoặc lợi nhuận tích luỹ. Vì vậy, điều bất lợi là nếu phần thu nhập của trái phiếu và cổ phiếu ưu đãi vượt quá thu nhập của công ty, cổ đông sở hữu cổ phiếu thường sẽ không nhận được gì.

Quyền yêu cầu về tài sản

Người sở hữu cổ phiếu thường có quyền yêu cầu về tài sản còn lại khi công ty phá sản, giải thể. Cổ đông sở hữu cổ phiếu thường chỉ nhận tài sản sau khi trái chủ và cổ đông sở hữu cổ phiếu ưu đãi đã nhận đủ tài sản của họ. Đặc biệt, trong trường hợp công ty phá sản, quyền yêu cầu về tài sản của cổ đông sở hữu cổ phiếu thường nói chung không được thoả mãn. Đặc tính này làm tăng rủi ro của cổ phiếu thường.

Quyền bầu cử

Nhìn chung, chỉ có cổ đông sở hữu cổ phiếu thường mới có quyền tham dự và biểu quyết tại ĐHCĐ. Cổ phiếu thường không chỉ có quyền bầu cử hội đồng quản trị, nó còn có quyền chấp thuận hay phản đối mọi sự thay đổi trong công ty như phát hành cổ phiếu mới hoặc sáp nhập, giải thể…

Quyền mua trước

Quyền mua trước cho phép cổ đông sở hữu cổ phiếu thường duy trì tỷ lệ cân đối về sở hữu công ty. Quyền mua trước cổ phiếu nhằm bảo vệ quyền kiểm soát và bảo vệ giá trị tài sản của chủ sở hữu không bị thay đổi khi công ty phát hành thêm cổ phiếu.

Xem thêm: Thị Trường Ngoại Hối Forex Là Gì? Hướng Dẫn Kinh Doanh Ngoại Hối Ở Việt Nam

Nghĩa vụ giới hạn: mặc dù cổ đông sở hữu cổ phiếu thường là chủ sở hữu thực sự của công ty, nhưng trách nhiệm của họ trong trường hợp công ty bị phá sản chỉ giới hạn ở khối lượng đầu tư của họ. Lợi ích của đặc điểm này là làm giảm tối đa rủi ro cho các nhà đầu tư.

Các quyền lợi khác

Một số quyền lợi khác của cổ đông sở hữu cổ phiếu thường như: quyền được tự do chuyển nhượng cổ phiếu (ngoại trừ các trường hợp đặc biệt theo luật định), quyền được nhận thông tin từ tổ chức phát hành, quyền được bảo vệ giá cổ phiếu